VINAGRI News - Giá dừa tại Thái Lan giảm xuống mức thấp kỷ lục chỉ 2 baht/quả khi một số doanh nghiệp có vốn Trung Quốc kiểm soát phần lớn chuỗi cung ứng và thiết lập giá mua. Tình trạng này đang khiến nông dân chịu áp lực lớn về thu nhập trong khi lợi nhuận tập trung vào các công ty xuất khẩu.
Tóm lược:
> Giá dừa Thái Lan giảm xuống mức kỷ lục 2 baht/quả, khiến nông dân gần như không có lợi nhuận.
> Các doanh nghiệp bị cho là có vốn Trung Quốc đang kiểm soát phần lớn chuỗi cung ứng dừa.
> Họ mua dừa với giá 2 - 5 baht nhưng xuất khẩu với giá 35 - 50 baht/quả.
> Cảnh sát Thái Lan đã tiến hành điều tra mạng lưới doanh nghiệp bình phong trong ngành dừa.
> Nguồn cung tăng mạnh, cạnh tranh từ Việt Nam và biến đổi khí hậu cũng gây áp lực lên giá.
> Nông dân nhỏ lẻ thiếu quyền thương lượng và có nguy cơ bị gạt ra khỏi chuỗi giá trị.
Nông dân Thái Lan chật vật khi giá dừa lao dốc
Với đôi bàn tay chai sạn vì cả đời lao động, ông Supon Haochareon cho biết những nông dân như ông ở Thái Lan hầu như không có khái niệm nghỉ hưu.
Ở tuổi 81, ông cùng vợ là bà Lamduan, 74 tuổi, vẫn phải chăm sóc hơn 300 cây dừa trên mảnh vườn tại tỉnh Samut Sakhon, cách Bangkok khoảng một giờ đi xe về phía tây. Mỗi năm, họ lại chứng kiến giá dừa giảm dần trong khi trái dừa ngày càng nhỏ hơn do nắng nóng khắc nghiệt.
Trong tháng này, giá dừa đã rơi xuống mức thấp kỷ lục chỉ 2 baht/quả (khoảng 0,06 USD), thậm chí còn rẻ hơn một thanh kẹo cao su, gần như xóa sạch lợi nhuận từ công sức lao động của người trồng.
“Trước đại dịch, giá mỗi quả dừa khoảng 20 baht,” bà Lamduan nói, nhắc đến giống nam hom - loại dừa thơm đặc trưng của Thái Lan, nhỏ hơn nhưng ngọt hơn dừa xanh và được coi là sản phẩm cao cấp tại Trung Quốc, nơi tiêu thụ phần lớn dừa Thái Lan.
“Nhưng chúng tôi đã thấy giá giảm từ 10 xuống 5 baht và giờ chỉ còn 2 baht. Số tiền đó không đủ để mua phân bón. Nhưng các thương lái lhong đưa ra giá và nói chúng tôi có thể bán hoặc không.”
Vai trò của thương lái truyền thống suy yếu
Trong hệ thống nông sản truyền thống của Thái Lan, lhong là các thương lái thu mua sản phẩm trực tiếp tại trang trại. Họ sẽ thu gom nông sản rồi thanh toán cho nông dân sau khi giá được xác định tại các trung tâm phân loại hàng hóa dựa trên chất lượng, khối lượng và đơn đặt hàng.
Tuy nhiên, vai trò của các thương lái này đang suy yếu trong những năm gần đây khi các doanh nhân Trung Quốc tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, từ trang trại tại Thái Lan cho tới các siêu thị tại Trung Quốc.
Theo giới chức, hiện có khoảng 6 - 7 công ty kiểm soát gần như toàn bộ ngành dừa. Những công ty này được đăng ký dưới tên người Thái nhưng được cho là thuộc sở hữu của nhà đầu tư Trung Quốc.
Các doanh nghiệp này thu mua và chế biến dừa, chiết xuất nước dừa rồi loại bỏ phần cơm và vỏ, sau đó xuất khẩu sang Trung Quốc. Đồng thời, họ cũng là bên thiết lập giá mua, khiến vai trò của thương lái truyền thống bị gạt sang bên và biên lợi nhuận của nông dân bị thu hẹp đáng kể.
Điều tra mạng lưới “doanh nghiệp bình phong”
Trong tháng này, cảnh sát Thái Lan đã tiến hành nhiều cuộc đột kích tại tỉnh Ratchaburi - trung tâm giao dịch dừa của nước này - nhằm vào các kho hàng và nhà máy chế biến bị nghi nằm trong mạng lưới “doanh nghiệp bình phong dừa”.
Hơn một chục người đã bị thẩm vấn, trong đó có nhiều công dân Trung Quốc. Diễn biến này khiến các chính trị gia Thái Lan phải nhanh chóng vào cuộc để bảo vệ lợi ích của nông dân.
Theo Cục Điều tra Trung ương Thái Lan, việc độc quyền chuỗi cung ứng cho phép các doanh nghiệp này ép giá mua từ nông dân xuống chỉ 2 - 5 baht mỗi quả, trong khi xuất khẩu với giá 35 - 50 baht mỗi quả.
Khoản chênh lệch này mang lại lợi nhuận rất lớn và phần lớn được chuyển ra nước ngoài.
Bộ trưởng Thương mại tạm quyền Supjaee Suthumpan tuyên bố sẽ xử lý tình trạng này và cảnh báo các thương lái rằng việc ép giá nông dân không thể tiếp tục.
Bà cho biết chính phủ có thể thiết lập một cơ chế thu mua do nhà nước quản lý để định giá cao hơn nếu cần thiết. Theo bà, nông nghiệp là nền tảng cốt lõi của nền kinh tế.
Nguồn vốn Trung Quốc chi phối ngành trái cây Thái Lan
Tuy nhiên, phía trên các thương lái địa phương là các doanh nhân Trung Quốc, những người đang kiểm soát phần lớn ngành xuất khẩu trái cây trị giá khoảng 6 tỷ USD của Thái Lan.
Theo nhiều nguồn tin trong ngành, tình trạng thông đồng giá cả, sở hữu trái phép vườn cây và kho hàng, cũng như các điều kiện bất lợi đối với nông dân nhỏ lẻ đã trở thành “bí mật công khai”.
Ngay cả các trung gian Thái Lan cũng thừa nhận họ đang bị gạt khỏi các thị trường sinh lợi như sầu riêng, bưởi, xoài, măng cụt và dừa.
Một thương lái dừa tại Samut Sakhon cho biết hơn 80% doanh nghiệp buôn bán dừa hiện nay có liên quan đến vốn Trung Quốc.
Điều này đồng nghĩa với việc giá sàn của mỗi quả dừa tại Thái Lan thực chất được quyết định bởi nguồn vốn nước ngoài. Các thương nhân còn lại buộc phải tuân theo vì nếu không họ sẽ không có nơi tiêu thụ.
Nguồn cung tăng mạnh làm giá sụp đổ
Gia đình ông Supon trước đây trồng cây thốt nốt lấy đường trên mảnh đất rộng 10 rai (khoảng 1,6 ha). Tuy nhiên khoảng một thập kỷ trước, nhu cầu nước dừa thơm nam hom tại Trung Quốc tăng mạnh, mở ra một thị trường mới đầy tiềm năng.
So với nuôi tôm hay trồng thốt nốt, dừa mang lại thu nhập tốt hơn và ít tốn công lao động hơn, khiến nhiều nông dân chuyển đổi sang loại cây này.
Tuy nhiên, làn sóng chuyển đổi quá mạnh đã khiến nguồn cung tăng vọt. Mỗi lần thu hoạch, vườn dừa của gia đình ông Supon có thể cho 1.000 - 2.000 quả, nhưng với mức giá chỉ 2 baht mỗi quả thì gần như không còn ý nghĩa kinh tế.
Hiện Thái Lan sản xuất khoảng 2 triệu quả dừa mỗi ngày, tạo ra tình trạng dư cung lớn và tiếp tục kéo giá xuống thấp.
Ngoài ra, cạnh tranh từ Việt Nam cũng đang làm giảm thị phần của dừa Thái Lan trong những năm gần đây. Thời tiết thất thường do biến đổi khí hậu, khi quá nhiều hoặc quá ít mưa, cũng khiến sản lượng và thu nhập của nông dân biến động mạnh.
Tuy nhiên, kể từ sau đại dịch, yếu tố lớn nhất khiến giá dừa sụt giảm được cho là sự kiểm soát ngày càng sâu của các doanh nhân Trung Quốc trong ngành.
Theo chuyên gia thương mại nông sản Khanitta Pakinamhang từ Viện Nghiên cứu Phát triển Thái Lan, trong hầu hết các thị trường trái cây xuất sang Trung Quốc, đơn đặt hàng đều xuất phát từ các nhà nhập khẩu Trung Quốc.
Họ quyết định loại trái cây được mua, khối lượng và mức giá.
Trong khi đó, nông dân Thái Lan chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ, phân tán và theo mùa vụ, nên khi đến kỳ thu hoạch họ hầu như không có quyền thương lượng.
Nguy cơ bị thâu tóm toàn bộ thị trường
Theo bà Khanitta, việc thành lập các hợp tác xã có thể giúp nông dân tăng sức mạnh đàm phán. Tuy nhiên, mô hình tích hợp chuỗi cung ứng dọc của các nhà đầu tư Trung Quốc - kiểm soát từ trang trại tới người tiêu dùng - khiến họ phải cạnh tranh với một đối thủ kinh tế khổng lồ.
Nguồn vốn Trung Quốc đủ lớn và linh hoạt để thâm nhập vào mọi tầng của chuỗi giá trị, làm dấy lên nguy cơ thâu tóm toàn bộ thị trường.
Sau khi kiểm soát chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp này thường áp dụng các biện pháp như thuê vườn với khoản tiền trả trước hấp dẫn, nhưng đến mùa thu hoạch lại hạ giá mua hoặc từ chối hàng với lý do chất lượng.
Theo bà Khanitta, đây là hệ thống chuyển toàn bộ rủi ro sang cho nông dân.
Nông dân mất quyền kiểm soát thị trường
Trong cái nóng ngột ngạt, ông Supon vẫn phải đi kiểm tra khu vườn dừa mỗi ngày. Ông dùng một cây gậy dài gõ các buồng dừa 10 - 12 quả rơi xuống kênh tưới, sau đó chúng được vớt lên, rửa sạch và bán cho các thương lái lhong đi xe tải tới thu mua.
Sau mỗi lần thu hoạch, phải mất từ ba đến bốn tuần thương lái mới quay lại thanh toán, với mức giá được quyết định ở nơi khác, không phản ánh chi phí thực tế như phân bón hay thiệt hại do thời tiết.
Những cây dừa từng hứa hẹn mang lại cuộc sống an nhàn tuổi già cho vợ chồng ông giờ trở thành gánh nặng.
“Chúng tôi không có quyền kiểm soát và cũng không thể bán cho ai khác,” ông Supon nói. “Điều đó không công bằng. Nhưng họ kiểm soát thị trường và chúng tôi không thể làm gì.”
NPK/ Vinagri News (SCMP)






No comments:
Post a Comment