Nông dân trồng lúa Philippines chịu áp lực lớn hơn khi nhập khẩu gạo được nối lại - VINAGRI News

Breaking

Home Top Ad

Exclusively Agriculture News

Monday, January 5, 2026

Nông dân trồng lúa Philippines chịu áp lực lớn hơn khi nhập khẩu gạo được nối lại

VINAGRI News - Việc Philippines nối lại nhập khẩu gạo theo cơ chế thuế linh hoạt đang làm gia tăng áp lực đối với nông dân trồng lúa, trong bối cảnh giá lúa tại ruộng giảm mạnh và chi phí sản xuất vượt xa giá bán. Dù chính phủ khẳng định chính sách nhằm ổn định nguồn cung và giá cả cho người tiêu dùng, nhiều tổ chức nông nghiệp cho rằng cơ chế này thiên lệch về phía nhập khẩu, làm suy yếu ngành lúa gạo trong nước và ảnh hưởng đến sinh kế của nông dân.


Nông dân canh tác trên thửa ruộng của mình tại Bustos, tỉnh Bulacan trong bức ảnh tư liệu chụp ngày 13/8/2025. Ảnh: Philippines Star/Miguel De Guzman

Tóm lược:

> Giá lúa tại Philippines giảm mạnh, thấp hơn chi phí sản xuất, khiến nông dân thua lỗ nặng.

Nhập khẩu gạo được nối lại theo cơ chế thuế linh hoạt, cho phép điều chỉnh thuế từ 15% đến 35% theo giá thế giới.

Chính phủ cho rằng chính sách nhằm ổn định nguồn cung và bảo vệ người tiêu dùng.

Nhiều tổ chức nông nghiệp phản đối, cho rằng cơ chế này thiên lệch về nhập khẩu và gây bất lợi cho nông dân.

Thuế nhập khẩu giảm làm suy yếu nguồn thu cho Quỹ RCEF, đe dọa các chương trình hỗ trợ nông dân.

Nông dân lo ngại nhập khẩu gia tăng sẽ tiếp tục kéo giá lúa xuống trong các vụ thu hoạch tới.


Bà Elvira C. Fadriquelan, một nông dân trồng lúa tại Philippines, đã sớm nhận ra rằng các con số không có lợi cho mình từ rất lâu trước khi bà bán vụ lúa mùa mưa vào tháng 10 năm ngoái.


Người phụ nữ 60 tuổi này cùng con trai canh tác gần 1 ha đất lúa tại Lubao, tỉnh Pampanga, miền Bắc Philippines. Bà chấp nhận bán lúa tươi (palay) với giá 13 peso/kg, trong khi chi phí sản xuất - bao gồm giống, phân bón, lao động và làm đất - dao động từ 16 đến 20 peso/kg.


“Với giá bán lúa chỉ 13 peso/kg, chúng tôi thậm chí không thu hồi được vốn,” bà Fadriquelan nói với BusinessWorld qua điện thoại bằng tiếng Filipino.


Theo bà, tại một số khu vực ở Trung Luzon, giá lúa tại ruộng thậm chí giảm xuống chỉ còn 8 peso/kg, buộc nông dân phải chấp nhận thua lỗ mà không thể bù đắp bằng nguồn thu nào khác. Rủi ro thời tiết càng khiến tình hình tồi tệ hơn. Lũ lụt và gió mạnh có thể khiến sản lượng mỗi vụ của gia đình bà giảm từ hơn 3 tấn xuống chỉ còn khoảng một nửa, trong khi chi phí vẫn không đổi.


“Khi bão đổ bộ, sản lượng thu hoạch giảm một nửa,” bà nói. “Chúng tôi phải bán hết lúa chỉ để gỡ lại chi phí, thay vì giữ lại gạo cho gia đình sử dụng.”


Trải nghiệm của bà Fadriquelan phản ánh áp lực chung trên khắp Trung Luzon, vùng sản xuất lúa lớn nhất Philippines. Theo Cơ quan Thống kê Philippines (PSA), giá lúa bình quân tại ruộng ở Trung Luzon trong tháng 10 chỉ còn 15,14 peso/kg, giảm 24,4% so với mức 20,02 peso/kg cùng kỳ năm trước.


Trên phạm vi cả nước, giá lúa tại ruộng bình quân trong tháng 11 đạt 16,92 peso/kg, giảm 16,6% so với mức 20,28 peso/kg của một năm trước đó.


Nông dân cho rằng việc tạm thời hạn chế nhập khẩu gạo trong nửa cuối năm ngoái hầu như không mang lại tác động tích cực. Giá lúa vẫn ở mức thấp, và nhiều người đang chuẩn bị tinh thần đối mặt với áp lực mới khi nhập khẩu gạo được nối lại theo cơ chế thuế quan sửa đổi.


“Lệnh hạn chế nhập khẩu không giúp giá lúa tăng đáng kể,” bà Fadriquelan nói. “Mọi thứ có thể còn khó khăn hơn khi lệnh này được dỡ bỏ, vì thương nhân có thể tích trữ gạo nhập khẩu rẻ hơn.”


Từ đầu năm nay, Philippines nối lại nhập khẩu gạo theo cơ chế thuế ‘linh hoạt’, cho phép mức thuế tăng hoặc giảm tùy theo biến động giá gạo thế giới. Sắc lệnh Hành pháp (EO) số 105 cho phép điều chỉnh thuế theo các nấc 5 điểm phần trăm, với mức trần từ 15% đến 35%.


Cơ sở để điều chỉnh thuế là giá bình quân hằng tháng của gạo Việt Nam 5% tấm - loại chiếm phần lớn lượng gạo nhập khẩu của Philippines - theo số liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO). Khi giá vượt qua các ngưỡng nhất định, thuế có thể được điều chỉnh theo chu kỳ mỗi quý.


Theo FAO, giá gạo Việt Nam 5% tấm hiện vào khoảng 361 USD/tấn, mức giá này tương ứng với thuế suất 20% theo công thức của EO 105.


Mức thuế khởi điểm cho tháng 1 sẽ được công bố chậm nhất vào ngày 15/1, dựa trên dữ liệu giá tháng 12, và sẽ có hiệu lực đến ngày 15/5, theo quy định triển khai chính sách.


Chính phủ Philippines cho rằng cơ chế thuế linh hoạt là công cụ để ổn định nguồn cung và quản lý biến động giá.


“Nếu giá gạo thế giới giảm quá thấp, thuế nên được đặt ở mức 35%,Bộ trưởng Nông nghiệp Francisco P. Tiu Laurel Jr. nói với báo chí trước đó. “Nhưng nếu giá tăng trở lại lên 720 USD/tấn, thuế nên giảm xuống 15% để duy trì sự ổn định giá lúa cho nông dân và cho người dân Philippines.”


Những người ủng hộ cho rằng cách tiếp cận này ưu tiên lợi ích của người tiêu dùng, trong bối cảnh gạo là mặt hàng thiết yếu về kinh tế và chính trị tại Philippines. Ông Fermin D. Adriano, cựu Thứ trưởng Nông nghiệp, cho rằng thuế biến thiên sẽ giúp giữ giá bán lẻ ở mức dễ chấp nhận đối với đa số người dân.


“Tôi đồng ý với cơ chế thuế linh hoạt vì tôi ưu tiên lợi ích của đại đa số người Philippines - những người tiêu dùng gạo… Chúng ta có hơn 115 triệu người tiêu dùng,” ông nói, đồng thời cho biết đã ủng hộ hệ thống thuế biến đổi này từ những năm 1980.


Ông Adriano cũng cho rằng những nông dân bị ảnh hưởng bởi thuế thấp có thể được hỗ trợ bằng các khoản chuyển tiền trực tiếp, với chi phí thấp hơn so với lợi ích mà người tiêu dùng nhận được nhờ giá gạo rẻ hơn.


Tuy nhiên, các tổ chức nông nghiệp phản đối cho rằng hệ thống thuế linh hoạt bảo vệ nông dân quá ít trong bối cảnh giá gạo thế giới đang hạ nhiệt. Họ lập luận rằng thuế nên quay trở lại mức cố định 35%, mức ban đầu được áp dụng đối với gạo nhập khẩu từ Đông Nam Á khi Luật Tự do hóa nhập khẩu gạo (Rice Tariffication Law) có hiệu lực năm 2019.


“Chúng ta nên bắt đầu ít nhất ở mức 35% để ngăn chặn sự suy tàn của ngành lúa gạo trong nước,” ông Danilo V. Fausto, Chủ tịch Phòng Nông nghiệp và Thực phẩm Philippines, cho biết trong một tin nhắn Viber. Ông đề xuất mức thuế này có thể được rà soát sau sáu tháng và chỉ điều chỉnh trong mùa thu hoạch hoặc khi giá quốc tế biến động mạnh.


Thuế nhập khẩu đã bị cắt xuống 15% vào tháng 6/2024 theo EO số 62 nhằm kiềm chế lạm phát. Kể từ đó, giá gạo thế giới đã giảm mạnh.


“Thiên lệch chống lại nông dân”


“Khi EO 62 được ban hành, giá gạo thế giới dao động từ 600 đến 650 USD/tấn,” ông Jayson H. Cainglet, Giám đốc điều hành Samahang Industriya ng Agrikultura, nói với BusinessWorld. “Giờ đây giá chỉ còn khoảng 359 - 363 USD.


Theo công thức của EO 105, thuế suất 35% chỉ được áp dụng khi giá gạo Việt Nam 5% tấm giảm xuống 315 USD/tấn. Các nhà phê bình cho rằng cơ chế này có hệ thống thiên về nhập khẩu hơn là sản xuất trong nước.


Ông Raul Q. Montemayor, Tổng Thư ký Liên đoàn Nông dân Tự do, cho biết các mô phỏng của tổ chức cho thấy gạo nhập khẩu vẫn rẻ hơn gạo sản xuất trong nước, ngay cả khi thuế tăng.


“Công thức thuế biến đổi này rõ ràng là thiên lệch chống lại nông dân,” ông nói, đồng thời cho biết giá gạo nhập khẩu sau thuế vẫn luôn thấp hơn giá bán buôn gạo nội địa.


Ông cũng đặt câu hỏi liệu hệ thống này có thể phản ứng đủ nhanh để bảo vệ nông dân trong mùa thu hoạch hay không.


“Việc thay đổi thuế đòi hỏi một quy trình kéo dài,” ông nói trước đó. “Tôi hoài nghi rằng các điều chỉnh có thể phản ứng kịp thời với biến động giá, đặc biệt là đối với lúa trong một mùa thu hoạch chỉ kéo dài khoảng ba tháng.”


Theo EO 105, thuế chỉ có thể được điều chỉnh mỗi ba tháng một lần, có hiệu lực vào tháng 1, 4, 710, và dựa trên giá thế giới của tháng trước đó.


Ông Fausto cũng cảnh báo rằng cấu trúc này có thể khuyến khích đầu cơ. Các thương nhân có thể dự đoán trước thay đổi thuế để tích trữ hàng nhập khẩu hoặc tham gia buôn lậu kỹ thuật nhằm tối đa hóa lợi nhuận.


Việc thuế giảm cũng kéo theo hệ lụy tài khóa. Theo báo cáo của Văn phòng Nghiên cứu Chính sách và Ngân sách Quốc hội (CPBRD), nguồn thu thuế nhập khẩu - vốn dùng để tài trợ cho Quỹ Nâng cao Năng lực Cạnh tranh Gạo (RCEF) - đang chịu áp lực suy giảm.


Thu thuế đạt mức kỷ lục 34,18 tỷ peso trong năm 2024, tăng 13,8% so với năm trước, nhưng đã giảm mạnh trong nửa cuối năm sau khi thuế bị hạ. Số liệu từ Cục Hải quan Philippines cho thấy thu thuế trong nửa cuối năm 2024 giảm 34,4%, xuống còn 10,81 tỷ peso, so với 16,48 tỷ peso cùng kỳ năm trước. Trong nửa đầu năm 2025, nguồn thu tiếp tục giảm 58,6%, còn 9,67 tỷ peso.


Quỹ RCEF tài trợ cho giống, cơ giới hóa, tín dụng và dịch vụ khuyến nông cho nông dân trồng lúa. Luật quy định nguồn vốn 30 tỷ peso mỗi năm cho chương trình này.


CPBRD cho biết, ngay cả khi nguồn thu nửa đầu năm 2025 được nhân đôi, tổng thu vẫn chỉ đạt khoảng 20 tỷ peso, thấp hơn nhiều so với mức yêu cầu hằng năm.


Bộ Nông nghiệp Philippines khẳng định việc giảm thu thuế sẽ không làm gián đoạn các chương trình của RCEF. Bộ trưởng Laurel cho biết khoản phân bổ 30 tỷ peso đã được đưa vào ngân sách theo Luật Ngân sách chung, không phụ thuộc vào mức thu thuế thực tế.


Theo Luật Cộng hòa số 12078, sửa đổi Luật Tự do hóa nhập khẩu gạo năm 2024, mọi khoản thiếu hụt nguồn thu sẽ được bù từ ngân sách của Bộ Nông nghiệp. Tuy nhiên, CPBRD cảnh báo điều này có thể buộc chính phủ phải đánh đổi với các chương trình nông nghiệp khác.


Đối với những nông dân như bà Fadriquelan, cuộc tranh luận về thuế quan dường như xa rời thực tế sản xuất. Bà cho rằng chính sách cần phản ánh điều kiện trong nước, chứ không chỉ dựa vào các chỉ số toàn cầu.


“Tại sao chúng ta lại để giá quốc tế quyết định chính sách của mình?” bà đặt câu hỏi. “Thuế cũng cần tính đến sản xuất trong nước. Chẳng lẽ chúng ta không có quyền giữ mức thuế 35% hay sao?”


Khi nhập khẩu gạo được nối lại theo cơ chế linh hoạt trong tháng này, sự bất định đang bao trùm vụ thu hoạch sắp tới.


“Vụ tới của chúng tôi rơi vào khoảng tháng 4,”Fadriquelan nói. “Nếu họ mở lại nhập khẩu gạo, đến bao giờ họ mới dừng? Cuối cùng, nông dân sẽ còn khổ hơn nữa.”


NPK/ Vinagri News (BusinessWorld)

No comments:

Post a Comment